0917084849

Luận bàn miếng trầu & bệnh sâu răng

LUẬN BÀN MIẾNG TRẦU VÀ BỆNH SÂU RĂNG

Trầm Hương Thiên Trang xin được đăng tải bài viết của tác giả Phạm Đức Long. Chia sẻ góc nhìn thú vị của người viết về chuyện trầu – chuyên sâu răng, chuyện xưa – nay!

Nhiều người đau răng kêu trời: Bây giờ sạch sẽ đủ đầy mà bệnh sâu răng lại nhiều hơn thời xưa!
Mình nghĩ: Chắc là ở miếng trầu!
Cứ viết liều đôi dòng suy nghĩ về miếng trầu và bệnh sâu răng.

1. Chuyện miếng trầu.

Ăn trầu là một nét văn hóa thấm sâu trong đời sống Việt hàng ngàn năm. Từ thường dân đến vua chúa, từ đàn ông đến đàn bà, từ già đến trẻ, một thời coi trầu cau là thú vui là căn cốt, là quốc hồn quốc túy.
Người Việt xưa có câu “miếng trầu là đầu câu chuyện”.
Chuyện lớn, chuyện bé, chuyện vui, chuyện buồn… tất tật đều mượn miếng trầu.
Đầu tiên phải nói việc yêu đương duyên phận. Miếng trầu cho người ta yêu nhau, kết duyên, nhung nhớ, rồi nên vợ nên chồng. Ăn miếng trầu, có chất thuốc chất vôi, con gái má thêm hồng, môi thêm đỏ, mắt thêm lúng liếng. Để mà say, mà đắm. Chuyện cổ có sự tích trầu cau. Duyên nợ, day dứt, đau đáu ngàn đời.

Trầu cau – vật phẩm không thể thiếu trong các lễ nghi quan trọng của người Việt

 

Ngày xuân ở Hội Lim, người ta hát:
Trầu này trầu tính trầu tình
Ăn vào cho đỏ môi mình môi ta.
Đó là liền anh liền chị hát mời trầu. Họ cứ mời nhau đắm đuối năm này qua năm khác, đời này qua đời khác. Đằng đẵng luyến thương vì miếng trầu trọn kiếp.

Tục ngữ ca dao về miếng trầu cũng hay:
Ba đồng một miếng trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu!
Trầu cay, hay đời cay!
Vì miếng trầu, mà tình đời lỡ làng ray rứt mãi trăm năm. Kể miếng trầu thật hệ trọng.
Yêu nhau cau sáu bổ ba
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.
Yêu ghét mà hành xử với quả cau như vậy, thì không phải chuyện vừa.

Lại nữa:
Ăn trầu phải mở trầu ra
Một là thuốc độc hai là mặn vôi.
Thuốc độc chắc là không có, nhưng là bùa ngãi. Bùa yêu!
Vua Lý Chiêu Hoàng vì cho Trần Cảnh miếng trầu mà non sông đổi chủ, thời cuộc đổi thay.
Một thời ông Nguyễn Nhạc (còn gọi ông Hai Trầu) đi buôn trầu miền Tây Sơn Thượng Đạo mà biết được thiên hạ, nắm được thiên hạ! Làm nên nghiệp lớn Nhà Tây Sơn.
Nhà thơ Hữu Thỉnh thì viết: Bởi nơi ta đi có mười tám thôn vườn trầu/Mỗi vườn trầu có bao nhiêu mùa Hạ… Lá trầu không còn là trầu nữa rồi! Cả một trời nhân tình thế thái được gói vào trong đó!

Hồi trước, con gái có người bỏ trầu (dạm ngõ) coi là vinh hạnh lắm. Nàng mang túi trầu đi cho (mời) khắp xóm. Đó là cách báo với mọi người, mình đã có người, trâu đã có cọc, ván đã đóng thuyền. Một chuyện phòng xa để cảnh báo đừng chàng trai nào rủ rê tán tỉnh nữa! Lễ cưới bao giờ cũng có buồng cau mớ trầu; sang nữa thì “quả trầu cau”.
Người sống mê say miếng trầu, người chết cũng giằng níu mãi với trầu cau. Xưa, ngày giỗ chạp, thắp hương thường có đĩa trầu, gồm một lá trầu hai quả cau. Đó có lẽ là tín ngưỡng phồn thực. Ở quê, hồi trước gần nhà mình, người ta đào tiểu câu (thời Hợp tác hóa, thủy lợi hóa đầu những năm 60 thế kỷ trước), đã nhặt được một lá trầu một nhánh hai quả cau bằng vàng. Chắc là đồ tế tự quí hiếm của người cao sang.
Một thời nhà Việt nào cũng có cái bình vôi bằng sành, gọi là ông Bình Vôi. Một danh xưng rất cao trọng. Miệng bình vôi luôn phải để hở. Người già bảo không được đậy kín miệng bình. Là nó giữ nhà, canh kẻ trộm. Kể cũng lạ. Chắc tại thời đó yên bình thịnh trị, nhà không phải khóa! Miệng bình vôi luôn cắm một cái chìa vôi bằng thanh tre già. Chìa vôi một đầu vót dẹp để bệt vôi vào là trầu, một đầu vót nhọn để têm trầu.
Miếng trầu xưa chủ yếu là trầu, cau, vôi. Ngoài ra còn có thuốc lào, vỏ chay rừng, cũng gọi là rễ chay… Nên trầu có tính gây nghiện và có thể tạo cơn say. Việc têm trầu cũng là một nghệ thuật cầu kỳ. Phải vừa vôi, vừa thuốc, têm phải chặt đẹp. Nghệ thuật nữa là têm trầu cánh phượng, trông rất bắt mắt cao sang.

Têm trầu cánh phượng

Vua chúa ăn trầu có những bình vôi và ống nhổ thuộc loại của quí, coi như quốc bảo.
Đồ ăn trầu còn có cơi trầu, dao cau, cối đâm trầu. Thời xưa dân ta ít chữ, có việc phải nhờ cụ đồ Nho viết hộ, như lập lá số tử vi cho con, giấy tờ thổ trạch, đơn kiện…Việc đầu tiên là phải có cơi trầu để thưa chuyện.
Người Bách Việt xưa địa bàn cư trú rộng, khắp Á Đông, nên tục ăn trầu cũng trải khắp: Từ Nam Trung Hoa, Đài Loan, Việt Nam, Miến Điện, Thái Lan, Lào… Thậm chí ra tận Nam Đảo. Việc ăn trầu ngoài giao duyên, kết duyên, giao đãi… còn là cách để bảo tồn văn hóa, bảo tồn bản sắc dân tộc. Nó khẳng định nét Việt, tộc Việt, dù ở đâu, nước Việt hay nước Tàu! Người Việt xưa có câu: “Con đâu mà gả cho người trắng răng!”. Là nói người Tàu! Người không ăn trầu, không nhuộm răng.

2. Chuyện sâu răng.

Người Việt xưa ăn trầu thì phải nhuộm răng. Răng đen hạt na là một nét duyên, là vẻ đẹp của người phụ nữ. Nhà thơ Hoàng Cầm viết: Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa Thu tỏa nắng. Một chân dung phụ nữ Việt rất đẹp theo cái nhìn truyền thống.
Con gái khoảng 13 tuổi, sắp đến tuần cập kê thì bắt đầu nhuộm răng. Nghe nói kiểu nhuộm răng bình dân phải nhịn ăn 3 ngày. Ban ngày xức cánh kiến, ban đêm rịt thuốc bầu bí, phèn đen. Sau nhuộm, răng đen bóng như bọc một lớp sơn keo. Răng được nhuộm kỹ, cộng với việc ăn trầu hàng ngày, tạo ra hàm răng ngày càng đen, càng bền chắc. Nhuộm răng mỗi nơi một cách, vua chúa khác bình dân nhưng nhìn chung bí hiểm và là một thử thách, như người Tây Nguyên có tục cà răng vậy.

Kể ra việc ăn trầu của người xưa cũng rất khoa học. Khi chưa có kem đánh răng, chưa có bàn chải răng, đó là giải pháp bảo vệ răng miệng tốt nhất.
Theo như cái nhìn hiện đại, người ta khi ăn thực phẩm, tuyến nước bọt sẽ tiết ra khoang miệng, trong đó có men amilaza mang tính kiềm nhẹ (PH trên 7). Nước bọt vì vậy vừa là yếu tố giúp tiêu hóa thức ăn, vừa tạo môi trường kiềm để bảo vệ men răng, ngà răng. Về cấu tạo, răng có chất các bon nát can xi (CaCO3), đây là chất đá vôi dễ tan trong môi trường a xít (toan – PH dưới 7). Ở môi trường kiềm răng được bảo vệ rất tốt. Ngược lại trong môi trường a xít, răng dễ bị mòn lủng. Khi ăn những thức ăn dính vào kẽ răng, nhất là chất xơ, bột đường; đây là nguồn cơ chất cho vi sinh vật trong vòm miệng phân hủy. Quá trình phân hủy chất hữu cơ bao giờ giờ cũng cho các sản phẩm trung gian mang tính a xít (toan), gây mòn răng, hư men răng. Khi răng mòn và thủng đến tủy răng, vi sinh vật sẽ xâm nhập và gây viêm đau. Khoang miệng là nơi hệ thần kinh rất nhạy cảm nên rất đau. Có câu: Tình yêu là bệnh sâu răng trong trái tim là thế.

Ống tiêu hóa của người ta kể cũng hay. Đầu vào (khoang miệng) có tính kiềm, bảo vệ răng. Xuống dạ dày, môi trường cực a xít giúp tiêu hóa thức ăn, diệt vi khuẩn có hại. Xuống tá tràng (ruột non), môi trường vẫn a xít nhưng giảm hơn. Đến không tràng, kết tràng, manh tràng, trực tràng (ruột già), môi trường lại trở về kiềm. Như vậy đoạn đầu kiềm, đoạn giữa a xít, đoạn cuối lại kiềm.
Việc ăn trầu có vôi nên tạo môi trường kiềm tốt cho răng, trong trầu, cau, thuốc lại có chất diệt khuẩn. Như vậy, ăn trầu ngoài việc sạch miệng (ức chế tiết nước bọt), còn có tác dụng chống sâu răng.
Ngày nay, ta không còn tục ăn trầu nữa, nhiều người đã chế rượu ngâm hạt cau, quả cau để phòng chống bệnh sâu răng. Có lẽ việc đó xuất phát từ ý tưởng trầu cau quá vãng của người Việt.

Người xưa ăn trầu cau giúp răng được bảo vệ rất tốt

3. Còn sự này cứ băn khoăn mãi.

Nói ra dễ bị coi là báng bổ tiền nhân. Không nói, thấy không hết lòng mình. Là việc ăn trầu, ngoài tính chất mĩ tục đã nêu trên, có lẽ còn có cái nhờn nhợn. Thử đứng ngoài nhìn tập hợp người, cả ngày ai ai miệng cũng đỏ choét. Như mồm máu! Có lẽ đó là dấu tích còn sót lại, là chút hồi quang của một thời mông muội, ăn thịt sống uống máu tươi. Nó vừa hả hê, sung túc, no đủ, khoái lạc (như ta vẫn có thói quen khoái ăn món tiết canh). Vừa dũng mãnh, đắc thắng như dọa kẻ thù, dọa Tàu răng trắng vậy!
Trầu cau bây giờ chỉ như là một thứ lễ nghi mang tính tín ngưỡng. Chẳng phải là thứ để ăn mà đưa câu chuyện nữa!
Lá trầu không, tên không là “vô” nhưng lại rất “hữu”. Chứa đựng bao nhiêu chuyện nhân sinh đời người trong đó.

Phạm Đức Long

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *